Công nghệ nồi hơi tầng sôi

Công nghệ nồi hơi tầng sôi

Công nghệ nồi hơi tầng sôi

Công nghệ nồi hơi tầng sôi

Công nghệ nồi hơi tầng sôi
Công nghệ nồi hơi tầng sôi

Hỗ trợ trực tuyến

ho tro

Mr. Lộc

Email:Locsaigon@gmail.com

Hỗ trợ trực tuyến Hỗ trợ trực tuyến qua skype

Video

Thống kê truy cập

  • CÔNG TY TNHH BACA VNĐang online:2
  • CÔNG TY TNHH BACA VNTuần:585
  • CÔNG TY TNHH BACA VNTháng:1579
  • CÔNG TY TNHH BACA VNTổng truy cập:89637

Chi tiết bài viết

Lò hơi tầng sôi

CÔNG NGHỆ NỒI HƠI TẦNG SÔI

(Fluidised bed boiler technology)

 

  1. 1.      Giới thiệu công nghệ nồi hơi tầng sôi
    1. a.      Tiêu chuẩn thẩm định công nghệ nồi hơi:

Nồi hơi, dĩ nhiên là sản xuất hơi nước bão hòa, nhưng đặc tính quan trọng nhất của nồi hơi là dùng hơi bao nhiêu thì sản xuất bấy nhiêu, không thể lưu trữ. Trong thực tế, nhu cầu sử dụng hơi không bao giờ cố định mà luôn luôn dao động nên công nghệ nồi hơi được đánh giá theo các tiêu chí sau:

     Khả năng đáp ứng nhu cầu thực tế sử dụng hơi (công suất và áp suất) với thời gian nhanh nhất: để giải quyết được vấn đề này, khi nhu cầu sử dụng hơi thay đổi, PLC phát tín hiệu điều khiển để nhiên liệu cháy nhiều hay ít hơn nhằm tăng hay giảm nhiệt lượng cho nồi hơi; bằng cách cho nhiên liệu vào buồng đốt theo tỷ lệ cần thiết. Nếu nhiên liệu bắt cháy ngay và tốc độ cháy nhanh sẽ tạo đủ nhiệt lượng cho nồi hơi, bù lại lượng hơi đã bị lấy đi; song, nếu nhiên liệu bắt cháy chậm và tốc độ cháy không nhanh, gọi là độ trễ, không những không đáp ứng đủ nhiệt lượng cần thiết (gây sụt áp) mà còn sinh khói đen và hiệu quả kém do nhiên liệu cháy không hết thoát ra ngoài theo khói.

     Độ tiêu hao nhiên liệu: Giá thành hơi gồm nhiều chi phí, trong đó, chi phí nhiên liệu chiếm tỷ lệ rất lớn; vì thế, độ tiêu hao nhiên liệu được quan tâm đặc biệt; và nó thể hiện hiệu suất của nồi hơi.

     Môi trường: chủ yếu là nhiệt độ, bụi và khói. Pháp luật quy định nồi hơi phải đạt các tiêu chuẩn về khí thải hiện hành được quy định tại QCVN 19 – 2009; còn nhiệt độ ảnh hưởng đến sức khỏe nhân viên, hẳn nhiên, nhiệt tỏa ra môi trường nhiều thì tốn nhiên liệu nhiều.

  1. b.      Bối cảnh cụ thể:
  • Cuối thế kỷ trước, trên thế giới người ta chỉ dùng than, dầu (FO, DO) hoặc gas (LPG) làm nhiên liệu để đốt nồi hơi; ở Việt Nam cho đến đầu năm 2006, những nhà máy chà lúa ở miền tây còn đổ trấu xuống sông làm nghẹt dòng chảy (http://vietbao.vn/Xa-hoi/Nhung-dong-song-trau/40131231/157/). Với công suất lớn để hạ giá thành sản phẩm, người ta dùng nồi hơi đốt than với các công nghệ như: phun than bụi vào buồng đốt, buồng đốt ghi xích (chuyển động) hay thanh ghi tĩnh. Với công suất vừa phải, người ta dùng nồi hơi đốt dầu và công suất nhỏ, nồi hơi đốt gas (LPG). Hiển nhiên, lò điện có công nghệ lại cao nhất và chi phí sản xuất (tiền điện) cũng cao nhất. Tóm lại, theo thứ tự này:

lò than ghi tĩnh – lò than ghi xích – lò than phun – lò dầu FO – lò dầu DO – lò gas LPG – lò điện, thì chi phí và công nghệ tăng dần.

  • Không phải vì nhiên liệu quá đắt mà người ra chế ra nồi hơi đốt than, trái lại, nồi hơi đốt than ra đời sớm nhất (dùng cho tàu hỏa, nhưng sau này do nhu cầu về chất lượng phục vụ con người gia tăng nên đã chuyển qua nồi hơi đốt dầu FO, DO cũng như trong gia đình ngày nay, hầu như mọi người sử dụng gas (LPG), điện nấu ăn vậy).
  1. c.      Nhu cầu cần thiết:

     Công nghệ nồi hơi điện rất cao cấp vì công suất điện thay đổi rất nhanh và rất dễ dàng nhờ vào biến điện thế hay tắt – mở nguồn điện; vì thế lò hơi điện rất đơn giản, có giá thành đầu tư rất thấp nhưng chi phí sản xuất (tiền điện) rất cao. Đặc biệt, rất sạch sẽ và không ô nhiễm môi trường. Lò hơi điện thường dùng ở quy mô rất nhỏ (khoảng 250 kg hơi mỗi giờ trở xuống).

     Công nghệ nồi hơi đốt gas cao cấp vì gas LPG nhanh bắt lửa và cháy mãnh liệt nên khi thay đổi tải tiêu thụ thì tín hiệu PLC đưa về điều khiển lượng gas rất dễ dàng nhờ van điều chỉnh. Hơn nữa, lượng gas đưa vào buồng đốt dễ dàng cháy hết nên hiệu suất cao và dường như không khói (đen), chỉ có một lý do cần quan tâm là giá gas rất đắt mà thôi. Do gas LPG ở thể khí, phân tán khắp buồng đốt nên cháy theo thể tích; vì thế, nồi hơi đốt gas chỉ cần buồng đốt nhỏ và toàn bộ buồng đốt đều giúp cho sự cháy.

     Ở nồi hơi đốt dầu, bắt chước đặc tính cháy của gas, người ta không đưa dầu ở thể lỏng vào buồng đốt mà tán nhuyễn thành sương dưới áp suất cao, trộn lẫn với không khí đưa vào giúp cho sự cháy. Lý do là dầu (DO, FO) ở dạng sương dễ bắt lửa và cháy tốc độ nhanh nhưng vẫn không bằng gas LPG được (do kích thước hạt sương vẫn lớn hơn khí gas nhiều). Khi bơm không tán dầu thật nhuyễn theo yêu cầu hay không khí có độ ẩm cao thì khi dầu cháy vẫn xuất hiện khói đen (chứng tỏ hạt dầu cháy không hết, gây hao phí nhiên liệu, hiệu suất thấp và vô hình chung, tại thời điểm cần nhiệt lượng cho nồi hơi, lại có hạt dầu không cháy). Như thế, lò dầu (kể cả DO lẫn FO) đều cháy theo thể tích.

     Nhưng công nghệ nồi hơi đốt than còn kém hơn nhiều, khởi đầu là nồi hơi ghi tĩnh (buồng đốt có những thanh ghi đứng yên như bếp than vậy, có thanh ghi là những khe để tro xỉ rơi qua), khá vất vả cho người cào lò và cấp than vào buồng đốt. Chính vì khe giữa những thanh ghi lớn nên công nghệ ghi tĩnh chỉ phù hợp với than cục. Than cục bắt lửa rất chậm và tốc độ cháy cũng thế nên tính công nghệ rất kém do hơi không đáp ứng kịp khi nhu cầu thực tế đòi hỏi và khói đen rất nhiều. Hơn nữa, trong khi cào xỉ, chắc chắn làm rơi những viên than nhỏ chưa kịp cháy nên hiệu suất rất kém. Tóm lại, nồi hơi ghi tĩnh mang trên mình hầu như tất cả nhược điểm, như: đáp ứng nhu cầu dùng hơi do thay đổi chậm (thiếu hơi, tụt áp), hiệu suất thấp do than không kịp cháy, than bắt lửa chậm gây khói, buồng đốt hở gây bụi và môi trường làm việc nóng, công nhân vất vả do cấp than, cào xỉ, . . . Dù nồi hơi ghi tĩnh rất đơn giản, giá đầu tư thấp song theo thời gian, nồi hơi ghi tĩnh rất ít được sử dụng, có chăng chỉ dùng cho nồi hơi công suất nhỏ và đòi hỏi về độ ổn định áp suất không cao.

     Để khắc phục nhược điểm căn bản của nồi hơi ghi tĩnh, nồi hơi ghi xích ra đời; bằng cách trang bị thêm bộ ghi xích và băng tải lấy xỉ. Than được đốt trên mặt ghi có khe nhỏ hơn nhiều và cháy từ đầu đến cuối hành trình mới đổ xuống hố xỉ, nhờ băng tải đưa xỉ ra ngoài. So với ghi tĩnh thì nồi hơi ghi xích có nhiều ưu điểm vượt trội. Đáng kể đầu tiên là nồi hơi ghi xích có thể dùng than cám thay cho than cục như ở nồi hơi ghi tĩnh; trong đó, than cám có kích thước hạt nhỏ hơn rất nhiều nên diện tích tiếp lửa lớn, bắt lửa nhanh. Nhờ đó áp suất hơi cần thiết cũng ổn định hơn và giảm bớt khói đen, nhất là hiệu suất tăng lên rõ rệt. Chính vì thế, cho đến ngày nay, nồi hơi ghi xích vẫn được chế tạo và sử dụng nhiều trong công nghiệp. Dầu vậy, không thể sánh với nồi hơi đốt dầu được vì than ở dạng hạt khó cháy hơn nhiều lần so với dầu ở dạng sương. Thêm vào đó, than ở thể rắn, có tỷ trọng lớn hơn không khí nhiều lần nên nằm trên mặt ghi trong suốt quá trình cháy, gọi là cháy theo diện tích. Khi đó, diện tích mặt ghi trong buồng đốt phải đủ lớn để nhiên liệu dễ dàng tiếp xúc với lửa, tránh tình trạng nhiên liệu chất thành đống với chiều cao quá dày thì độ bắt cháy lại giảm. Như thế, nồi hơi đốt than thường có buồng lửa mở rộng tối đa về diện tích, còn về thể tích được thu hẹp lại, vì thể tích không giúp cho sự cháy nữa mà trái lại chỉ tăng thêm hiện tượng thất thoát nhiệt.

     Thêm một điều mà người vận hành nồi hơi ghi xích nào cũng sợ là đục xỉ than. Khi than cháy, nhiệt độ lên tới 1100 – 12000C. Ở nhiệt độ này, các tạp chất có lẫn trong than, đặc biệt là Si-li-cat (SiO2) cháy lỏng kết dính cơ học với các chất khác như Al2O3, Fe2O3 tạo thành xỉ cứng. Khi dừng lò, lớp xỉ này bám vào mép lá ghi và vách lò, làm băng tải không thể chạy được nếu không đục bỏ lớp xỉ này ra. Và, muốn đục xỉ phải chui vào trong buồng đốt, nghĩa là khi dừng lò vì sự cố nào đó, phải chờ buồng đốt nguội mới có thể chui vào đục xỉ.

     Ngoài ra, công nghệ nồi hơi ghi xích còn có ưu điểm là mặt ghi kín hơn và nhiên liệu cháy đến cuối ghi mới đổ xuống hố xỉ, nhờ băng tải xỉ đưa ra ngoài, như thế, giảm bớt công sức trong việc cào lò, cấp than và đỡ hao nhiên liệu hơn lò ghi tĩnh. Song nhược điểm của nồi hơi đốt nhiên liệu rắn là chỉ cháy trên mặt ghi (theo diện tích), còn không gian lò dường như bỏ phí lại làm hao nhiên liệu do thất thoát nhiệt.

     Công nghệ đốt than phun ra đời, bằng cách nghiền than thật nhỏ, mịn và phun vào buồng đốt. Giải quyết các nhược điểm của than như bụi than siêu nhỏ (nhẹ) dưới áp suất của quạt làm cho bụi than lẫn trong không khí đưa vào lò để đốt cháy. Do than nghiền siêu nhỏ nên dễ bắt lửa hơn, cháy nhanh hơn song là chất rắn nên cũng không thể sánh bằng dầu được, nhưng giá nhiên liệu rẻ hơn rất nhiều. Nói chung, đây là công nghệ đốt than, nhưng các ưu điểm giống như đốt dầu vậy (đốt nhiên liệu theo thể tích, mau cháy và cháy nhanh hơn than khác, . . .). Nói cách khác, đây là nồi hơi đốt than với công nghệ cao nhất. Tuy vậy, trong thực tế, thiết bị nghiền than siêu nhỏ và béc phun than có giá đầu tư rất cao nên chỉ áp dụng cho những nồi hơi có công suất rất lớn, hiện nay nhà máy điện Phả Lại, tỉnh Hải Dương đang sử dụng.

     Tóm lại, công nghệ nồi hơi than phun giải quyết được các nhược điểm của nồi hơi đốt than nhưng lại không được sử dụng trong sản xuất vừa và nhỏ nên trong thực tế vẫn còn dùng lò dầu nhiều.

Đến cuối thập niên 80 thế kỷ trước, dầu (FO, DO) và gas LPG tăng giá mạnh, thúc đẩy các nhà khoa học nâng cao chất lượng công nghệ nồi hơi đốt than, nhằm thay thế lò dầu.

  1. 2.      Công nghệ tầng sôi:
  2. a.      Đặc tính công nghệ tầng sôi:
  • Đầu thập niên 90, Foster Wheeler Power Group công bố công nghệ nồi hơi tầng sôi (fluidised bed boiler technology). Đặc tính của nồi hơi này là đốt nhiên liệu theo thể tích, nghĩa là nhiên liệu đưa vào buồng đốt, khi cháy, dưới áp suất âm đủ lớn, hút nhiên liệu đang cháy bay bổng, lơ lửng trong không trung buồng đốt, gọi là tầng sôi.
  • Như vậy, công nghệ tầng sôi không phải do nồi hơi có buồng đốt cao mà là cháy theo thể tích, nhiên liệu đang cháy tràn ngập không gian buồng đốt. Có người đặt vấn đề: công nghệ nồi hơi than phun có phải là tầng sôi? Xin trả lời ngay là đúng như thế, vì công nghệ nồi hơi than phun cháy theo thể tích, còn việc phun than bột vào buồng đốt chỉ là một cách cấp liệu mà thôi; song công nghệ than phun cao cấp hơn tầng sôi rất nhiều, nên người ta gọi là công nghệ than phun nhằm phân biệt với công nghệ tầng sôi.
  1. b.      Ưu – nhược điểm của công nghệ tầng sôi:

     Ưu điểm lớn nhất của nồi hơi tầng sôi là đốt nhiên liệu theo thể tích, nên buồng đốt nhỏ hơn nồi hơi ghi xích nhiều, giảm thất thoát nhiệt. Ngoài ra, do nhiên liệu cháy lơ lửng trong buồng đốt nên nhiệt độ không gian buồng đốt cao hơn, giúp trao đổi nhiệt tốt hơn. Nhờ các yếu tố đó, hiệu suất nồi hơi có thể tăng 7 –  10%.

     Do nồi hơi tầng sôi cháy theo thể tích nên thời gian nhiên liệu cháy đè lên nhau ngắn hơn hản, nên nhiệt độ buồng đốt (chỗ nóng nhất gần đáy lò) cũng chỉ 850 – 9000C. Ở nhiệt độ này, than cháy kết thành xỉ rất ít và xỉ liên kết không cứng lắm nên không nhất thiết phải đục bỏ xỉ mỗi khi dừng lò; hơn nữa, buồng đốt không có ghi xích. Điều này phù hợp với việc dừng lò sự cố và vận hành lại ngay sau khi khắc phục xong (do không phải đục xỉ).

     Nhược điểm lớn nhất của nồi hơi tầng sôi là hút nhiên liệu cháy ra phía sau đuôi lò; nghĩa là không lấy tro xỉ nhờ băng tải xỉ mà lấy tro ra qua cyclon khô và tháp dập bụi với cyclon ướt. Với lượng tro bụi nhiều bay theo khói nóng với tốc độ cao 25 – 40 m/phút, dễ dàng làm mòn, hư hỏng các bộ phận trong guồng cánh quạt hút.

  1. c.      Du nhập vào Việt Nam:

ü  Mặc dù Foster Wheeler Power Group giới thiệu công nghệ nồi hơi tầng sôi vào đầu thập niên 90. Từ đó có nhiều người tìm hiểu song thực hiện không thành công công nghệ tầng sôi này, do FWPG không nói rõ đặc tính căn bản của công nghệ (đốt theo thể tích); hơn nữa, FWPG đặt tên “fluidised bed boiler technology” dễ gây hiểu lầm. Đến năm 2005, ở Việt Nam mới thử nghiệm thành công công nghệ nồi hơi tầng sôi này.

ü  Sau đó, công nghệ này lan tỏa rất rộng rãi trên khắp các tỉnh thành ở Việt Nam.

  1. 3.      Sử dụng nhiên liệu biomass:
  2. a.      Tận dụng nguồn trấu thải:

     Khi công nghệ nồi hơi tầng sôi (đốt bằng than 3 – 5 mm) áp dụng ở Việt Nam, cũng là lúc cách mạng về năng lượng nở rộ trên thế giới, trong đó có chương trình tận dụng các phụ phẩm nông lâm nghiệp hay chất thải trong công nghiệp làm chất đốt. Cụ thể, dùng trấu, mạt cưa, vỏ điều, vỏ café, củi băm, viên ép làm nhiên liệu, gọi là tái tạo năng lượng.

     Cho đến năm 2007, các máy ép củi trấu, ép viên trấu, viên mạt cưa, . . . ra đời; cùng với việc đốt nồi hơi bằng vỏ điều, củi băm, trấu rời, trấu viên, củi trấu đạt áp suất hơi như mong muốn.

  1. Đốt nồi hơi bằng biomass: (trấu, mạt cưa, vỏ điều, củi băm)
  • Các chất phụ phẩm nông lâm nghiệp hay chất thải từ công nghiệp được gọi chung một tên là biomass. Đặc tính chung của nồi hơi biomass là có nhiệt độ buồng đốt thấp, thường chỉ đạt 700 – 7500C; nên độ bền các kết cấu trong buồng đốt cao.
  • Xét về kiểu nồi hơi đốt biomass thì các nồi hơi này thuộc nhóm đốt nhiên liệu rắn. Nếu nồi hơi có công suất nhỏ thường được dùng ghi tĩnh; công suất vừa theo kiểu tầng sôi và công suất lớn dùng ghi xích.
  • Nồi hơi ghi tĩnh có kết cấu đơn giản nhất vì ghi trong buồng đốt chỉ gồm một số thanh xếp gần nhau. Nồi hơi tầng sôi có buồng đốt tương tự như nồi hơi ghi tĩnh nhưng các thanh ghi đặt sát nhau không để tro lọt qua. Tro được lấy ra khỏi buồng đốt bằng cách hút ra phía sau đuôi lò nên áp suất âm buồng đốt phải đủ lớn. Còn nồi hơi ghi xích thì chi phí đầu tư cho bộ ghi xích và băng tải xỉ không phải nhỏ. Chính vì thế, cả 3 kiểu nồi hơi này được dùng nhiều khi đốt nhiên liệu biomass.
  1. c.      Công nghệ tầng sôi với biomass:

     Đúng hơn, sử dụng nồi hơi công nghệ tầng sôi để đốt nhiên liệu biomass chứ không phải nồi hơi đốt biomass tầng sôi. Điều đó dễ hiểu vì công nghệ tầng sôi được chế tạo cho nhiên liệu than cám 3 – 5 mm, chứ không phải cho nhiên liệu biomass.

     Muốn đốt tầng sôi thì nhiên liệu phải nhẹ mới có thể bay lên dưới áp suất âm buồng đốt, thực tế chỉ dùng cho những hạt khoảng 5 mm trở xuống. Nhưng, hạt nhiên liệu quá nhỏ làm tuổi thọ của hạt khi cháy quá ngắn nên không kịp cháy tạo tầng sôi mà bị hút luôn ra phía sau lò.

     Tóm lại, củi trấu, củi băm, vỏ điều do sức nặng luôn cháy trên mặt ghi, nên không đốt thể tích được; chỉ một phần nhiên liệu vỡ vụn trong quá trình cháy thành những hạt nhỏ mới cháy thể tích được. Vì thế, những nhiên liệu này không thể dùng cho công nghệ tầng sôi mà chỉ có thể dùng để đốt trong lò tầng sôi.

  1. 4.      Chọn kiểu nồi hơi hiện nay:
  2. Công nghệ chế tạo nồi hơi hiện nay:
  • Dần theo thời gian, các nhà chế tạo nồi hơi am hiểu nhiều hơn với công nghệ nồi hơi. Một số chuyên chăm về kỹ thuật, tính toán cẩn thận, chi tiết hơn trong việc thiết kế để chế tạo ra những nồi hơi đạt công nghệ cao; một phần sao chép kích thước nồi hơi có sẵn, nên số nhà chế tạo nồi hơi công nghệ thấp cũng ít dần.
  • Không kể đến 2 yếu tố chính của nồi hơi là áp suất và công suất của hơi bão hòa vì nếu không đạt một trong hai yếu tố này thì thay thế nồi hơi khác chứ làm sao đủ nhiệt để sản xuất? Nồi hơi đạt công nghệ cao là:
    • Khói thoát ra môi trường nhẹ và trong (không cuồn cuộn, đen hay trắng đục) đạt các tiêu chuẩn về khí thải hiện hành được quy định tại QCVN 19 – 2009.
    • Không bụi ở nhà lò hay thoát ra ống khói.
    • Nồi hơi cách nhiệt tốt, không thoát nhiệt ra môi trường xung quanh.
    • Không rò rỉ khói, hơi và nước ra nhà lò.
  • Do các nồi hơi đạt được các tiêu chuẩn trên nên ngày nay nhiên liệu đốt lò thường được chọn theo đặc tính sản xuất và giá nhiên liệu.
  1. b.      Chọn nhiên liệu cho nồi hơi:

     Theo đặc tính sản xuất: thường chọn theo 2 tiêu chí:

v Đặc thù sản phẩm: Ví dụ: nhà máy dược phẩm thường chọn nhiên liệu là điện, gas, dầu vì chi phí hơi trong giá thành sản phẩm không cao trong khi dùng nhiên liệu rắn, nhà máy khó đạt được tiêu chuẩn vệ sinh phòng dịch.

v Công suất nồi hơi:

  • Nồi hơi có công suất dưới 250 kg hơi / giờ thường dùng điện, gas
  • Nồi hơi có công suất 250 – 2.000 kg hơi / giờ thường đốt gas, dầu
  • Nồi hơi có công suất 1 tấn hơi trở lên thường đốt than, củi, mạt cưa, vỏ trấu, vỏ café, phụ phẩm nông lâm nghiệp, . . .

     Theo giá nhiên liệu:

Nhiên liệu đốt lò hơi thường được chọn theo vùng miền. Ví dụ: miền tây Nam bộ thường chọn vỏ trấu, miền đông thì củi cao su, củi điều, mạt cưa, vỏ điều, . . . quan trọng là mua được nhiên liệu nào dễ dàng và giá thành thấp. Mua nồi hơi nhưng giá nhiên liệu mới là yếu tố quan trọng nhất.

  1. c.      Chọn lò hơi đốt nhiên liệu rắn (củi, mạt cưa, vỏ trấu, vỏ điều, . . .):
  • Khi nồi hơi có công suất 20 tấn hơi/giờ trở xuống, càng nhỏ càng nên chế tạo theo kiểu nồi hơi tầng sôi để đốt củi băm, than Indo hay vỏ trấu. Ưu điểm lớn nhất của lò hơi tầng sôi khi đốt các nhiên liệu này là không bụi, nhà lò sạch sẽ.
  • Khi nồi hơi có công suất 10 tấn hơi/giờ trở lên, càng lớn càng nên chế tạo theo kiểu nồi hơi ghi xích để đốt củi băm, than Indo hay củi trấu.
  1. d.      Lưu ý khi chọn nồi hơi tầng sôi:

            +  Thuận:

                -  Nồi hơi tầng sôi phù hợp với rất nhiều nhiên liệu, không kể lớn nhỏ, như mạt cưa, . . . nên có thể gọi lò tầng sôi là lò đốt đa nhiên liệu.

                -  Kích thước nhiên liệu nhỏ như củi băm, mạt cưa, . . . có thể cấp liệu tự động như băng tải, . . . nếu kích thước lớn quá thì dùng thủ công.

                -  Nồi hơi tầng sôi giúp cho nhà lò sạch sẽ.

            +  Nghịch:

                -  Khi dùng vỏ trầu đốt lò hơi tầng sôi cần phải lưu ý đặc biệt đến hệ thống thu hồi tro vì hàm lượng tro trong trấu rất cao (khoảng 17%).

                -  Kích thước nhiên liệu lớn vẫn cháy tốt trong lò tầng sôi, nhưng chỉ một phần cháy được tầng sôi khi nhiên liệu vỡ nhỏ còn vẫn là cháy diện tích nên hiệu suất lò không tăng rõ rệt.

  1. e.      Kết luận:
  • Công nghệ nồi hơi tầng sôi cao cấp hơn công nghệ ghi xích, nhưng buồng đốt nồi hơi tầng sôi đơn giản hơn buồng đốt lò ghi xích nên có giá đầu tư thấp hơn (giá lò hơi tầng sôi thấp hơn).
  • Nồi hơi tầng sôi có giá cao hơn nồi hơi ghi tĩnh không bao nhiêu nhưng công nghệ cao hơn rất nhiều, đặc biệt giảm yếu tố khói, bụi ảnh hưởng lớn đến môi trường; nhất là xu hướng các tiêu chuẩn về môi trường ngày một khắt khe hơn nên dần theo thời gian, công nghệ ghi tĩnh sẽ được thay thế bằng công nghệ tầng sôi.

 

Các bài viết khác

backtop