Nồi hơi

Nồi hơi

Nồi hơi

Nồi hơi

Nồi hơi
Nồi hơi

Hỗ trợ trực tuyến

ho tro

Mr. Lộc

Email:Locsaigon@gmail.com

Hỗ trợ trực tuyến Hỗ trợ trực tuyến qua skype

Video

Thống kê truy cập

  • CÔNG TY TNHH BACA VNĐang online:4
  • CÔNG TY TNHH BACA VNTuần:83
  • CÔNG TY TNHH BACA VNTháng:1193
  • CÔNG TY TNHH BACA VNTổng truy cập:47671

Chi tiết bài viết

Khái quát về lò hơi?

Đơn giản nhất là nồi chõ nấu xôi hay hấp bánh bao gồm 2 phần:

      Phần dưới chứa nước được đun sôi hóa thành hơi, và Hơi bay lên làm chín thực phẩm.

      Phần trên chứa thực phẩm.

Nhưng loại nồi này có hiệu suất rất thấp chỉ phù hợp với công suất rất nhỏ vì tính đơn giản, an toàn và dễ dàng sử dụng.

Trong thực tế, nhất là trong công nghiệp, để giảm giá thành sản xuất, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm, người ta không ngừng nâng cao hiệu suất và tính tiện dụng của nó. Cụ thể:

  1. Tính tiện dụng: người ta tách 2 phần trên ra xa nhau, phần 1 chỉ tạo ra hơi bão hòa gọi là nồi hơi được đặt ở xưởng nồi hơi, phần 2 sử dụng hơi phục vụ sản xuất gọi là thiết bị sử dụng hơi, thường đặt ở xưởng sản xuất. Do 2 phần trên xa nhau nên từ nồi hơi đến thiết bị sử dụng hơi gọi là truyền dẫn hơi.
  2. Nâng cao hiệu suất: có rất nhiều yếu tố, càng hội nhiều yếu tố cho hiệu quả càng cao. Các yếu tố đó là:
  • Nồi chõ chỉ tiếp xúc lửa (nguồn nhiệt) dưới đáy nồi, nên diện tích truyền nhiệt rất thấp. Người ta đã nâng diện tích truyền nhiệt lên, bằng cách sử dụng nhiều ống nhỏ; có thể cho khói nóng đi bên ngoài, nước bên trong ống gọi là ống nước; hay nước bao bọc quanh ống còn khói nóng đi bên trong gọi là ống lửa. Nồi hơi có thể là ống nước, ống lửa hay hỗn hợp (sử dụng cả 2 loại ống nước + ống lửa). Riêng nồi hơi đốt gas, dầu thì không cần buồng đốt; hỗn hợp khí bị đốt cháy ngay trong ống đủ lớn gọi ống lò (ở những nồi hơi sử dụng nhiên liệu rắn cần không gian lớn nên chế tạo buồng đốt riêng biệt và ống lò chỉ là ống lửa mà thôi).
  • Nồi chõ để thông với khí quyển nên áp suất luôn bằng với khí quyển. Về áp suất, có 2 khái niệm:
    • Áp suất tuyệt đối: là lực của vật thể tác dụng lên đơn vị diện tích (không bao giờ âm, áp suất chân không là 0, áp suất khí quyển là 1 atm). Áp suất này chỉ là khái niệm không dùng trong thực tế.
    • Áp suất tương đối (áp suất dư): bằng áp suất tuyệt đối trừ đi áp suất khí quyển. Khi nói đến “áp suất” được hiểu là áp suất này (ví dụ áp suất âm ở buồng đốt). Và trong thực tế, số chỉ trên các áp kế cũng biểu thị áp suất tương đối này.

Trong phòng thí nghiệm người ta dùng chiều cao cột thủy ngân để đo áp suất, trong kỹ thuật người ta thay bằng nước, 1 atm = 10,33 m H2O. Do trước đây chưa có hay máy tính chưa thông dụng, người ta dùng thước tính, chấp nhận sai số nên đã làm tròn số để dễ tính toán, gọi là: 1 at = 10 m H2O. Vài chục năm trước đây, người Việt Nam quen với đơn vị áp suất dùng ở Liên Xô: kg/cm2, nay để hội nhập với kỹ thuật thế giới, Việt Nam chính thức sử dụng đơn vị “bar” để đo áp suất (1 bar = 0,1 MPa = 1,02 kg/cm2).

Khi nước trong nồi đang sôi, áp suất ở giá trị nào đó thì dù gia nhiệt bao nhiêu chăng nữa, nhiệt độ cũng ở giá trị nhất định không thể tăng thêm được. Vì thế, nước sôi ở áp suất khí quyển (áp kế chỉ 0 bar) nhiệt độ luôn ở 1000C. Để tăng nhiệt độ sôi, người ta phải tăng áp, như nồi áp suất, nhiệt độ sôi cao hơn nấu mau nhừ hơn. Và, trong thực tế, tùy thuộc nhiệt độ cần thiết phục vụ cho bộ phận sản xuất mà người ta chọn áp suất hoạt động cho nồi hơi.

  • Sử dụng một thời gian ta thấy một lớp cặn màu trắng bám chặt trong đáy nồi. Cặn này do các ion Ca2+ hay Mg2+ có lẫn trong nước tạo nên. Chính lớp cặn này làm giảm độ dẫn nhiệt hay hiện tượng trao đổi nhiệt xảy ra khó khăn hơn, làm giảm hiệu suất tạo hơi của nồi. Chính vì thế, nước dùng cho nồi hơi phải xử lý.
  • Chúng ta thấy, nồi chõ khi hoạt động rất an toàn và không bao giờ xảy ra tiếng nổ, còn nồi hơi thì sao? Cớ sao Nhà nước (Bộ Lao động – thương binh xã hội) lại đưa nồi hơi vào danh mục cần phải thực hiện nghiêm ngặt những quy định để tránh nguy hiểm. Khi sử dụng nồi hơi có thể xảy ra xì và nổ:

      Xì (hơi hoặc nước): Ở áp suất thấp, nhất là bằng khí quyển như nồi chõ, khi phần dưới bị lủng lỗ thì nước nóng chảy ra, gọi là xì nước nhưng không văng ra mạnh nên dễ dàng tránh né. Nhưng khi nồi hơi hoạt động ở áp suất cao, cần chú ý: khi nồi hơi bị lủng hay vỡ một vài lỗ nhỏ, chỉ có thể xảy ra tại một vài điểm nào đó trên ống (do ba-lông dày, khó có thể hỏng 1 lỗ nhỏ được). Lý do:

  • liên kết giữa các ống bằng liên kết hàn hay nong chặt không đạt chất lượng theo quy định, khi làm việc liên tục trong môi trường thay đổi nhiệt độ làm thép nồi hơi co giãn không đều gây phá vỡ liên kết.
  • ống bị mòn, tại điểm yếu nhất không chịu được áp suất.
  • ống bị cáu cặn bám, nhiệt tăng cao quá mức do truyền nhiệt cho nước kém, phá vỡ ống (hiện tượng phù, dộp ống).

Một hay nhiều lý do trên xảy ra, ống bị hở, dưới áp lực đang làm việc trong nồi, nước hay hơi bị đẩy ra ngoài với tiếng xì mạnh, gọi là bị xì ống. Hiện tượng này là sự cố vẫn thường xảy ra, rất nguy hiểm khi nước hay hơi đó chạm vào người gây phỏng nặng do nhiệt độ quá cao (áp suất nồi hơi càng cao thì phỏng càng nặng). Nhà thiết kế phải lường hết mọi trường hợp, khi ống nồi hơi bị xì khó có thể văng vào người đứng chung quanh nồi hơi và để tự bảo vệ mình, người không có trách nhiệm không đến gần nồi hơi và nhà đặt nồi hơi phải thông thoáng, đủ sáng, những thiết bị, dụng cụ không cần thiết cho việc vận hành thì phải tháo gỡ, dời đi nơi khác để khi sự cố xì hơi xảy ra, người vận hành dễ dàng tránh né.

      Nổ nồi hơi: có nhiều nguyên nhân gây ra nổ lò hơi và mỗi nguyên nhân tương ứng với hậu quả của chúng.

  • Nổ do chập điện:
  • Nổ do nhiên liệu:
  • Nổ do quá áp:
  • Nổ do hóa hơi quá lò (nổ ba-lông):

chúng ta quan sát nồi chõ hoạt động, không bao giờ xảy ra tiếng nổ, nhưng: khi phần dưới cạn nước, ta vô ý không dừng ngay, nồi tiếp tục bị nung nóng rất nhiều (có thể bị cháy đỏ) mà dân gian gọi là bị cháy nồi; nếu chúng ta tắt bếp thì không có tai nạn nào xảy ra (chỉ cháy nồi thôi); nhưng nếu ta rót nước vào, nước hóa hơi quá nhanh do nồi đang nóng quá mức làm hơi và nước nóng hắt lên có thể gây phỏng. Tương tự như thế, song do nồi hơi hoạt động ở áp suất cao nên có 2 nguyên nhân gây nổ nồi hơi:

  • Nổ nồi hơi do chế tạo: Nghĩa là nồi hơi chế tạo không đạt yêu cầu, không đúng quy chuẩn. Điều này nếu thực hiện đúng quy định của Nhà nước thì không bao giờ xảy ra. Hơn nữa, để đảm bảo an toàn, Nhà nước đã quy định chặt chẽ về kiểm tra, nhất là kiểm định về yếu tố an toàn trước và trong sử dụng, có dám tem và ghi rõ thời gian được phép sử dụng; nghĩa là, đối với những nồi hơi hoạt động không an toàn thì kiểm định sẽ phát hiện ra và từ chối kiểm định. Nên nồi hơi nổ do chế tạo chỉ xảy ra đối với nhà chế tạo hiểu biết quá ít về nồi hơi song người sử dụng lại coi thường về kiểm định, phối hợp với Đơn vị kiểm định làm sai quy định.
  • Nổ nồi hơi do vận hành: Khi nước trong nồi hơi cạn quá mức, nhiệt độ ống trao đổi nhiệt bị nung nóng quá mức, nếu chúng ta dừng lò thì không xảy ra tại nạn (tuy nồi hơi bị cháy có thể dẫn đến hư hỏng hay chất lượng nồi hơi bị giảm sút trầm trọng); nhưng nếu chúng ta bơm nước vào nồi thì lượng nước mới vào gặp ống trao đổi nhiệt quá nóng, mau chóng hóa hơi, tạo áp suất quá lớn có thể tới hàng trăm bar, ở áp suất này, chẳng ba-lông nào chịu nổi nên nổ như bom.

Như vậy, thông thường nổ nồi hơi chỉ có nguyên nhân duy nhất là bơm nước vào nồi sai quy định.

Việc sai này, chắc chắn là do vận hành viên vì việc này chỉ xảy ra ở chế độ điều khiển bằng tay. Điều này rất quan trọng nên đã được nhắc đi nhắc lại đến độ thuộc lòng khi được đào tạo vận hành nồi hơi; và nghiêm cấm những ai chưa qua các khóa đào tạo (chưa có chứng chỉ) được vận hành nồi hơi. Song, con người có thể sai lầm và có những sai lầm không thể cứu vãn được. Nên nhà chế tạo phải lắp thêm những cấp bảo vệ để nhân viên do sơ suất không thể bơm nước vào nồi sai quy định như thế được.

Rất tiếc, điều này lại ít được thực hiện ở Việt Nam nên thỉnh thoảng chúng ta lại nghe tin nồi hơi bị nổ. Vì lắp thêm nhưng cấp bảo vệ cùng nghĩa với tăng chi phí đầu tư và thêm rườm rà cho người sử dụng (ví dụ: khi xóa 1 file nào đó, sau khi bấm nút xóa “Delete”, máy chưa xóa ngay mà hỏi lại đúng / không “Yes / No” trong đó No lại ưu tiên hơn). Thiết nghĩ, cẩn thận bao nhiêu cũng không thừa và dẫu có thêm rườm rà song vì an toàn đó lại là cần thiết; nhưng rất tiếc, ý thức đối với vận hành viên chưa cao và kỷ luật chưa nghiêm nên nguy cơ không an toàn tăng cao và chất lượng nồi hơi giảm làm cho hiệu quả cũng mất đi.

Các bài viết khác

backtop